![]() |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
![]() |
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
|
|
|
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Dự án nghiên cứu hành động về các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro
Các hoạt động về tài chính vi mô liên quan |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
Đề tài này được thực hiện trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Tổ chức Lao động Quốc tế và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, "Mở rộng Chương trình Tài chính và Bảo hiểm Vi mô cho Lao động Nữ trong Khu vực Phi Kết cấu".
Mục đích của nghiên
cứu là xem xét một cách tổng quan các dịch vụ tài
chính quản lý rủi ro
khác nhau hiện đang có ở Việt Nam. Dịch vụ tài chính quản lý rủi ro được
hiểu là những dịch vụ tài chính cho phép hộ gia đình đối phó hiệu quả
hơn đối với các rủi ro và áp lực kinh tế. Do vậy, nghiên cứu sẽ tập
trung vào các dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm linh hoạt, và cho vay khẩn cấp
(vay nóng). Nghiên cứu sẽ không xem xét các khoản biếu, tặng, trợ cấp,
và các loại hình cho vay không lãi.
BẢO HIỂM
A. Khu vực chính thức – Bảo hiểm xã hội Vào năm 1995, các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội do Chính phủ ban hành (Luật Lao động) đi vào hiệu lực, các đơn vị nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân có từ 10 lao động trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hiện nay quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc đã mở rộng đến tất cả các doanh nghiệp tư nhân có đăng ký kinh doanh. Người lao động được hưởng những chế độ bảo hiểm sau đây:
- Chế độ hưu trí Người sử dụng lao động phải đóng 15% tổng quỹ lương và người lao động đóng 5% lương cơ bản vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ áp dụng với khu vực kinh tế chính thức, vì vậy chỉ có khoảng 11% lực lượng lao động ở Việt Nam được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Phần lớn những người đóng bảo hiểm xã hội thuộc thành phần kinh tế quốc doanh.
Mục đích của Chính phủ là mở
rộng bảo trợ xã hội cho mọi người lao động. Luật Lao động đã quy định
hai hình thức bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã
hội tự nguyện cùng được áp dụng, với mục đích bảo vệ tất cả mọi người
lao động và gia đình họ. Trên thực tế số người tham gia bảo hiểm xã hội
tự nguyện rất thấp. 2. Trợ giúp xã hội Việt Nam đã phát triển nhiều chương trình trợ giúp xã hội. Tuy vậy cần lưu ý rằng trợ giúp xã hội (mà chủ yếu là các hình thức trợ cấp) không phải là một cơ chế bảo hiểm, và sẽ không được xem xét một cách chi tiết trong khuôn khổ nghiên cứu này. Các chương trình trợ giúp xã hội gồm có:
- Trợ giúp bằng tiền cho
thương binh và cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ, những người tham gia
cách mạng và người có công (1.4 triệu người) 3. Bảo hiểm y tế Hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành có hiệu lực từ tháng 1/1999. Cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam quản lý chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc, chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện, và chương trình bảo hiểm y tế miễn phí. Theo quy định, trẻ em dưới 6 tuổi không phải trả tiền cho các dịch vụ y tế. Trên thực tế, phụ huynh vẫn phải trả tiền để con em mình được chăm sóc sức khoẻ. Bảo hiểm y tế bắt buộc Chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc chủ yếu phục vụ khu vực kinh tế chính thức. Lao động trong các doanh nghiệp tư nhân sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc. Thành viên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc có quyền được hưởng sự điều trị nội trú và ngoại trú ở mọi cấp. Mức đóng góp là 2% tổng quỹ lương của chủ sử dụng lao động và 1% lương cơ bản của người lao động. Người nhận dịch vụ bảo hiểm y tế bắt buộc phải đồng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh, trừ các nhóm được ưu tiên và người về hưu. Bảo hiểm y tế bắt buộc chỉ cung cấp dịch vụ cho bản thân người đóng bảo hiểm chứ không áp dụng cho những người ăn theo. Những người lao động được bảo hiểm được giảm tỉ lệ đóng góp cho những người ăn theo nếu tất cả các thành viên trong gia đình đều tham gia bảo hiểm (nhăm giảm thiểu những lựa chọn bất lợi). Sáng kiến này dường như không mấy thành công. Bảo hiểm y tế tự nguyện Năm 1998, tổng số thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện là 3,69 triệu người (so với 6,07 triệu thành viên bảo hiểm y tế bắt buộc). Tuy nhiên, năm 2000 số lượng thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện giảm, cho thấy nhu cầu cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như tiến hành các biện pháp nâng cao nhận thức về bảo hiểm y tế tự nguyện cho lao động thuộc khu vực phi chính thức (bao gồm cả nông dân). Thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện cũng được hưởng các quyền lợi như thành viên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc (vơi mức đóng tương đương). Mức đóng bảo hiểm dao động như sau (VND/người/năm):
Đã có một số chương trình thí điểm được thực hiện để khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Dự án do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Phụ nữ thành phố Huế thực hiện là một ví dụ. Hệ thống bảo hiểm y tế tự nguyện hiện đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng: mức phí cao, người dân thiếu tin tưởng vào hệ thống bảo hiểm, thủ tục hành chính phức tạp, rủi ro đạo đức và vấn đề lựa chọn ngược. Thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo Chương trình "Thẻ bảo hiểm miễn phí cho người nghèo" được áp dụng từ năm 2002, là một phần của chương trình xoá đói giảm nghèo. Người ngheo được bao cấp thẻ bảo hiểm y tế và có thể nhận được các dịch vụ hoàn chỉnh.75% kinh phí của Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo do Nhà nước cấp, phần còn lại trích từ kinh phí của địa phương và huy động đóng góp của các tổ chức trong và ngoài nước. Quỹ chịu trách nhiệm mua thẻ bảo hiểm y tế mệnh giá 50.000 đ/năm để cấp miễn phí cho người nghèo, hoặc chi trả trực tiếp chi phí khám chữa bệnh thực tế của họ. Đến cuối năm 2003, đã có 1,85 triệu người được cấp thẻ miễn phí và 2,5 triệu người được chăm sóc miễn phí. Liên quan đến chương trình này, đã có một số vấn đề được nêu ra. Việc xác định đúng đối tượng tương đối phức tạp, và có một số nhóm đối tượng nghèo lại không được hưởng các quyền lợi từ Quỹ (ví dụ nhóm lao động nhập cư). Cho đến nay mới chỉ có 20% trong tổng số hộ thuộc đối tượng của Quỹ được cấp thẻ miễn phí, với sự chênh lệch rất lớn giữa các tỉnh. Cuối cùng, dường như chất lượng dịch vụ y tế đối với đối tượng có thẻ miễn phí không được đảm bảo.
Tóm lại, trong tổng dân số
hơn 78 triệu người Việt Nam, cho đến năm 2000 mới có 10,5 triệu
người (13%) có bảo hiểm y tế.
B. Khu vực kinh tế chính thức – Ngành bảo hiểm Ngành bảo hiểm Việt Nam đang phát triển nhanh trong những năm gần đây. Các công ty bảo hiểm đang hoạt động ở Việt Nam gồm có các công ty nhà nước và tư nhân (cổ phần, liên doanh, và công ty nước ngoài). Các quy đinh pháp luật phân biệt hai loại hình bảo hiểm khác nhau là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Các công ty bảo hiểm có thể được cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm nhân thọ hoặc giấy phép kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ. VINARE là công ty tái bảo hiểm của nhà nước. Nhưng Chính phủ Việt Nam dự kiến sẽ thực hiện cổ phần hoá VINARE vào năm 2010. Bảo hiểm có thể chia làm hai loại như sau:
Trong số 17 công ty bảo hiểm được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam, có:
• 3 công ty bảo hiểm của
nhà nước (Bảo Việt, Bảo Minh, công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam) Về loại hình giấy phép hoạt động, có 5 công ty có giấy phép hoạt động bảo hiểm nhân thọ (gồm Bảo Việt nhân thọ, Prudential, Manulife, AIA và Bảo Minh CMG), các công ty còn lại có giấy phép hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ. Cũng cần lưu ý rằng một số giấy phép có thể quy định phậm vi hoạt động hạn chế hơn, ví dụ giấy phép hoạt động của Groupama chỉ giới hạn phạm vi hoạt động trong lĩnh vự bảo hiểm nông nghiệp. Ngoài ra ở Việt Nam còn có 3 công ty môi giới bao hiểm và các văn phòng đại diện của khoảng 20 công ty bảo hiểm nước ngoài. 1. Bảo hiểm nhân thọ Thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam phát triển mạnh trong những năm gần đây. Năm 2003, tổng doanh số bán bảo hiểm nhân thọ đạt tới 6.500 tỷ đồng.
Thị trường bảo hiểm nhân
thọ được phân chia giữa các công ty như sau (năm 2003)
Các công ty bảo hiểm đang nỗ lực đa dạng hoá sản phẩm. Ví dụ, Bảo Việt đã đưa ra sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện, Prudential có sản phẩm thiết kế đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Ngoài ra các công ty cón có các sản phẩm phụ đi kèm với sản phẩm chính. Mỗi công ty cung cấp một loạt các sản phẩm khác nhau, tuy vậy hầu hết các sản phẩm này đều là kết hợp giữa bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và tiết kiệm. Hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ tập trung vào thị trường khách hàng có thu nhập trung bình. Mức phí bảo hiểm thấp nhất vào khoảng 84.000 đồng/tháng. Ví dụ trường hợp của công ty Bảo Minh CMG, khi được hỏi công ty có quan tâm đến thị trường có thu nhập thấp không, đại diện của công ty đã trả lời: 1/ mức phí hiện nay đã tương đối thấp (100.000đ/tháng), cho phép nhiều người có thể mua được bảo hiểm, 2/ thị trường mục tiêu của Bảo Minh CMG hiện vẫn chưa được khai thác hết và công ty vẫn còn nhiều khả năng để phát triển. Vì vậy Bảo Minh không thấy cần phải hướng tới các khách hàng có thu nhập thấp hơn. Trong khi đó, Bảo Việt lại cung cấp một số sản phẩm có thể phù hợp đối với thị trường khách hàng nghèo. Ví dụ sản phẩm bảo hiểm sinh mạng của Bảo Việt với mức phí thấp nhất là 2.800 đồng/năm tương ứng với mức bảo hiểm là 1.000.000 đồng. 2. Bảo hiểm phi nhân thọ
Hai nhà cung cấp hàng đầu
của thị trường phi nhân thọ là Bảo Việt và Bảo Minh, với thị phần
lần lượt là 41% và 25,2%.
• Bảo hiểm kết hợp con
người 2.1 Bảo hiểm tài sản Chỉ một số sản phẩm chọn lọc trong các sản phẩm bảo hiểm tài sản có thể có ích cho các hộ nghèo. Các sản phẩm tiềm năng này gồm có bảo hiểm cây lúa và bảo hiểm chăn nuôi. Công ty bảo hiểm Groupama (Pháp), có trụ sở ở Cần Thơ, cung cấp sản phẩm bảo hiểm chăn nuối đối với một số vật nuôi nhất định. Groupama đang gặp phải một số khó khăn trong kinh doanh bảo hiểm chăn nuôi và hiện đang muốn đa dạng hoá hoạt động bằng cách mở rộng ra ngoài lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp. Bảo Việt đã thử nghiệm bảo hiểm cây lúa nhưng không thành công. Hiện Bảo Việt vẫn đang bảo hiểm cho một số cây trồng công nghiệp, như bảo hiểm cây cà phê, cây cao su... Kinh nghiệm của Bảo Việt trong lĩnh vực bảo hiểm chăn nuôi còn hạn chế và họ cũng đang chờ xem kết quả hoạt động của Groupama trong lĩnh vực này như thế nào. Được biết ở Tổng công ty Bảo Việt chỉ có một cán bộ phụ trách về bảo hiểm nông nghiệp, và người này còn phụ trách một mảng hạot động khác. Các công ty bảo hiểm khác không cung cấp những sản phẩm phù hợp cho người có thu nhập thấp. 2.2 Bảo hiểm con người phi nhân thọ: Những sản phẩm bảo hiểm sau đây của Bảo Việt có thể phù hợp với người nghèo:
• Bảo hiểm toàn diện đối
với học sinh
C. Các sáng kiến về bảo hiểm trong khu vực bán chính thức và phi chính thức
Như đã trình bày ở trên,
hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt Nam chủ yếu phục vụ khu vực kinh
tế nhà nước, trong khi đó các nhà cung cấp bảo hiểm tư nhân tập
trung vào tầng lớp dân cư có thu nhập trung bình hoặc cao. Để đáp
ứng nhu cầu của các hộ gia đình có thu nhập thấp, các tổ chức, đoàn
thể khác nhau đã phát triển một số cơ chế thay thế bảo hiểm.
TIẾT KIỆM
Mục đích của nghiên cứu là
xem xét các dịch vụ tiết kiệm hiện có ở Việt Nam và đánh giá xem các
dịch vụ này có phù hợp với nhu cầu của người nghèo, đặc biệt là phụ
nữ nghèo hay không. Hiện ở Việt Nam có nhiều phương thức tiết kiệm
khác nhau, như được trình bày tơm tắt trong bảng sau:
Các sản phẩm tiết kiệm thường được chia làm mấy loại chính: 1. Tiết kiệm không kỳ hạn 2. Tiết kiệm có kỳ hạn 3. Tiết kiệm gửi góp (tiết kiệm theo hợp đồng)
4. Khu vực phi chính thức
Trong khu vực phi chính
thức có nhiều phương thức tiết kiệm khác nhau, ví dụ tiết kiệm theo
nhóm (chơi họ, còn gọi là chơi hụi hay chơi phường). Một số nhóm
tiết kiệm chơi có lãi, một số khác thì không có lãi. Một số nhóm
thống nhất mục đích sử dụng tiền (VD nhóm họ xây nhà, họ hiếu/hỉ, họ
bát đĩa, vv...), số khác lại không quy định, người tham gia có thể
sử dụng tiền bốc họ vào bất cứ việc gì tuỳ theo nhu cầu. Số thành
viên trong một nhóm có thể dao động từ 5 đến 30 người hoặc hơn nữa,
nhưng thông thường ở mức 10 – 12 người. Mức đóng góp tuỳ theo từng
nhóm, thông thường khoảng 100.000đ/tháng. Nếu đóng bằng thóc thì
người chơi đóng hai lần một năm, vào hai vụ lúa.
VAY VỐN KHẨN CẤP
Vốn vay khẩn cấp là những khoản vốn nhỏ, ngắn hạn, được cấp ngay lập tức, với những thủ tục đơn giản. Trong phần này nghiên cứu chỉ tập trung vào các khoản vay thương mại (có lãi).
Nhìn chung các ngân hàng nhà nước và tư nhân, kể cả NH CSXH, đều không cung cấp vốn vay khẩn cấp. Trường hợp duy nhất mà khách hàng có thể vay một khoản vay khẩn cấp ở ngân hàng là khi họ cầm cố các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiết kiệm có kỳ hạn, trái phiếu kho bạc...) Một số sản phẩm do các tổ chức tài chính vi mô cung cấp có tính chất gần giống như một vốn vay khẩn cấp (VD vốn vay bổ sung của AAV hay vốn đa mục đích của TYM). Tuy nhiên các khoản vốn này cũng không thể cấp trong ngày, và các thủ tục để được vay (dù đơn giản hơn so với thủ tục của ngân hàng) vẫn còn là một hạn chế.
Do vậy, chỉ có người cho
vay tư nhân và các hiệu cầm đồ là những nhà cung cấp sản phẩm vốn
vay khẩn cấp "thực".
|
||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||
|
© 2003-2004 Văn phòng
ILO tại Việt Nam. |
|||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||||