Dự án nghiên cứu hành động về các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro

Các hoạt động về tài chính vi mô liên quan
của văn phòng ILO tại Việt Nam

 
 

Trang chủ

Giới thiệu

Tin tức và sự kiện

Tài liệu

Đối tác

Câu hỏi thường gặp

Website hữu ích

Liên hệ

   

Các hoạt động
 về tài chính vi mô liên quan của Văn phòng
ILO tại Việt Nam

   

English

   

 

Đề tài này được thực hiện trong khuôn khổ dự án hợp tác giữa Tổ chức Lao động Quốc tế và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, "Mở rộng Chương trình Tài chính và Bảo hiểm Vi mô cho Lao động Nữ trong Khu vực Phi Kết cấu".

Mục đích của nghiên cứu là xem xét một cách tổng quan các dịch vụ tài chính quản lý rủi ro khác nhau hiện đang có ở Việt Nam. Dịch vụ tài chính quản lý rủi ro được hiểu là những dịch vụ tài chính cho phép hộ gia đình đối phó hiệu quả hơn đối với các rủi ro và áp lực kinh tế. Do vậy, nghiên cứu sẽ tập trung vào các dịch vụ bảo hiểm, tiết kiệm linh hoạt, và cho vay khẩn cấp (vay nóng). Nghiên cứu sẽ không xem xét các khoản biếu, tặng, trợ cấp, và các loại hình cho vay không lãi.
Nhóm nghiên cứu của Viện KHLĐ & XH thực hiện đề tài này. Họ được yêu cầu tìm hiểu các nhà cung cấp dịch vụ ở cả khu vực chính thức (bao gồm khu vực nhà nước và khu vực tư nhân), bán chính thức (các tổ chức phi chính phủ và các đoàn thể xã hội), và phi chính thức, với mục đích điểm lại các dịch vụ đã có và đánh giá xem các dịch vụ này có phù hợp với nhu cầu của các hộ nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo hay không.

 

BẢO HIỂM

 

A. Khu vực chính thức – Bảo hiểm xã hội

Vào năm 1995, các quy định pháp luật về bảo hiểm xã hội do Chính phủ ban hành (Luật Lao động) đi vào hiệu lực, các đơn vị nhà nước cũng như các doanh nghiệp tư nhân có từ 10 lao động trở lên phải tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc. Hiện nay quy định về bảo hiểm xã hội bắt buộc đã mở rộng đến tất cả các doanh nghiệp tư nhân có đăng ký kinh doanh. Người lao động được hưởng những chế độ bảo hiểm sau đây:

- Chế độ hưu trí
- Các bệnh nghề nghiệp và tai nạn lao động
- Chế độ ốm đau
- Chế độ nghỉ thai sản
- Chế độ tử tuất

Người sử dụng lao động phải đóng 15% tổng quỹ lương và người lao động đóng 5% lương cơ bản vào quỹ bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội bắt buộc chỉ áp dụng với khu vực kinh tế chính thức, vì vậy chỉ có khoảng 11% lực lượng lao động ở Việt Nam được hưởng chế độ bảo hiểm xã hội. Phần lớn những người đóng bảo hiểm xã hội thuộc thành phần kinh tế quốc doanh.

Mục đích của Chính phủ là mở rộng bảo trợ xã hội cho mọi người lao động. Luật Lao động đã quy định hai hình thức bảo hiểm xã hội là bảo hiểm xã hội bắt buộc và bảo hiểm xã hội tự nguyện cùng được áp dụng, với mục đích bảo vệ tất cả mọi người lao động và gia đình họ. Trên thực tế số người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện rất thấp.
Trở ngại có thể là do mức đóng bảo hiểm xã hội quá cao (tổng cộng cả người lao động và người sử dụng lao động phải đóng 20% mức lương cơ bản). Mức đóng góp 20% là không khả thi đối với người lao động trong khu vực kinh tế phi chính thức.

2. Trợ giúp xã hội

Việt Nam đã phát triển nhiều chương trình trợ giúp xã hội. Tuy vậy cần lưu ý rằng trợ giúp xã hội (mà chủ yếu là các hình thức trợ cấp) không phải là một cơ chế bảo hiểm, và sẽ không được xem xét một cách chi tiết trong khuôn khổ nghiên cứu này.

Các chương trình trợ giúp xã hội gồm có:

- Trợ giúp bằng tiền cho thương binh và cựu chiến binh, gia đình liệt sĩ, những người tham gia cách mạng và người có công (1.4 triệu người)
- Quỹ cứu trợ thường xuyên
- Quỹ dự phòng cứu đói giáp hạt và cứu trợ thiên tai
- Chương trình xoá đói giảm nghèo

3. Bảo hiểm y tế

Hệ thống pháp luật về bảo hiểm y tế hiện hành có hiệu lực từ tháng 1/1999. Cơ quan Bảo hiểm Xã hội Việt Nam quản lý chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc, chương trình bảo hiểm y tế tự nguyện, và chương trình bảo hiểm y tế miễn phí. Theo quy định, trẻ em dưới 6 tuổi không phải trả tiền cho các dịch vụ y tế. Trên thực tế, phụ huynh vẫn phải trả tiền để con em mình được chăm sóc sức khoẻ.

Bảo hiểm y tế bắt buộc

Chương trình bảo hiểm y tế bắt buộc chủ yếu phục vụ khu vực kinh tế chính thức. Lao động trong các doanh nghiệp tư nhân sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc. Thành viên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc có quyền được hưởng sự điều trị nội trú và ngoại trú ở mọi cấp.

Mức đóng góp là 2% tổng quỹ lương của chủ sử dụng lao động và 1% lương cơ bản của người lao động. Người nhận dịch vụ bảo hiểm y tế bắt buộc phải đồng chi trả 20% chi phí khám chữa bệnh, trừ các nhóm được ưu tiên và người về hưu. Bảo hiểm y tế bắt buộc chỉ cung cấp dịch vụ cho bản thân người đóng bảo hiểm chứ không áp dụng cho những người ăn theo. Những người lao động được bảo hiểm được giảm tỉ lệ đóng góp cho những người ăn theo nếu tất cả các thành viên trong gia đình đều tham gia bảo hiểm (nhăm giảm thiểu những lựa chọn bất lợi). Sáng kiến này dường như không mấy thành công.

Bảo hiểm y tế tự nguyện

Năm 1998, tổng số thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện là 3,69 triệu người (so với 6,07 triệu thành viên bảo hiểm y tế bắt buộc). Tuy nhiên, năm 2000 số lượng thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện giảm, cho thấy nhu cầu cải thiện chất lượng dịch vụ cũng như tiến hành các biện pháp nâng cao nhận thức về bảo hiểm y tế tự nguyện cho lao động thuộc khu vực phi chính thức (bao gồm cả nông dân).

Thành viên tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện cũng được hưởng các quyền lợi như thành viên tham gia bảo hiểm y tế bắt buộc (vơi mức đóng tương đương). Mức đóng bảo hiểm dao động như sau (VND/người/năm):

  Khu vực thành thị Khu vực nông thôn

Người lớn

80,000 – 140,000

60,000 – 100,000

Học sinh và sinh viên

35,000 – 70,000

25,000 – 50,000

Đã có một số chương trình thí điểm được thực hiện để khuyến khích người dân tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Dự án do Bảo hiểm Xã hội Việt Nam phối hợp với Hội Phụ nữ thành phố Huế thực hiện là một ví dụ.

Hệ thống bảo hiểm y tế tự nguyện hiện đang phải đối mặt với những vấn đề nghiêm trọng: mức phí cao, người dân thiếu tin tưởng vào hệ thống bảo hiểm, thủ tục hành chính phức tạp, rủi ro đạo đức và vấn đề lựa chọn ngược.

Thẻ bảo hiểm y tế miễn phí cho người nghèo

Chương trình "Thẻ bảo hiểm miễn phí cho người nghèo" được áp dụng từ năm 2002, là một phần của chương trình xoá đói giảm nghèo. Người ngheo được bao cấp thẻ bảo hiểm y tế và có thể nhận được các dịch vụ hoàn chỉnh.75% kinh phí của Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo do Nhà nước cấp, phần còn lại trích từ kinh phí của địa phương và huy động đóng góp của các tổ chức trong và ngoài nước.

Quỹ chịu trách nhiệm mua thẻ bảo hiểm y tế mệnh giá 50.000 đ/năm để cấp miễn phí cho người nghèo, hoặc chi trả trực tiếp chi phí khám chữa bệnh thực tế của họ. Đến cuối năm 2003, đã có 1,85 triệu người được cấp thẻ miễn phí và 2,5 triệu người được chăm sóc miễn phí.

Liên quan đến chương trình này, đã có một số vấn đề được nêu ra. Việc xác định đúng đối tượng tương đối phức tạp, và có một số nhóm đối tượng nghèo lại không được hưởng các quyền lợi từ Quỹ (ví dụ nhóm lao động nhập cư). Cho đến nay mới chỉ có 20% trong tổng số hộ thuộc đối tượng của Quỹ được cấp thẻ miễn phí, với sự chênh lệch rất lớn giữa các tỉnh. Cuối cùng, dường như chất lượng dịch vụ y tế đối với đối tượng có thẻ miễn phí không được đảm bảo.

Tóm lại, trong tổng dân số hơn 78 triệu người Việt Nam, cho đến năm 2000 mới có 10,5 triệu người (13%) có bảo hiểm y tế.
 

Kết luận:

1. Hệ thống bảo hiểm xã hội hiện nay được thiết kế chủ yếu phục vụ khu vực kinh tế chính thức và vì vậy không phù hợp đối với những lao động thuộc khu vực phi chính thức.

2. Bảo hiểm y tế tự nguyện có thể đáp ứng nhu cầu của lao động phi chính thức (đặc biệt với những người có điều kiện kinh tế khá hơn). Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ y tế vẫn là điều đáng lo ngại. Hơn nữa, trong một số trường hợp, người có thẻ bảo hiểm tự nguyện vẫn phải trả những khoản tiền ngoài chi phí khám chữa bệnh chính thức.

3. Chương trình bảo hiểm miễn phí cho người nghèo phù hợp cho lao động nghèo trong khu vực kinh tế phi chính thức. Tuy nhiên hiện nay chương trình này đang gặp phải một số khó khăn: số hộ được cấp thẻ bảo hiểm miễn phí còn hạn chế và chất lượng dịch vụ y tế chưa được đảm bảo. Ngoài ra, một số nhóm nghèo vẫn chưa tiép cận được chương trình này, ví dụ như nhóm lao động nhập cư.
 

B. Khu vực kinh tế chính thức – Ngành bảo hiểm

Ngành bảo hiểm Việt Nam đang phát triển nhanh trong những năm gần đây. Các công ty bảo hiểm đang hoạt động ở Việt Nam gồm có các công ty nhà nước và tư nhân (cổ phần, liên doanh, và công ty nước ngoài). Các quy đinh pháp luật phân biệt hai loại hình bảo hiểm khác nhau là bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ. Các công ty bảo hiểm có thể được cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm nhân thọ hoặc giấy phép kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ.

VINARE là công ty tái bảo hiểm của nhà nước. Nhưng Chính phủ Việt Nam dự kiến sẽ thực hiện cổ phần hoá VINARE vào năm 2010.

Bảo hiểm có thể chia làm hai loại như sau:

 

Giấy phép hoạt động BH nhân thọ

Giấy phép hoạt động BH phi nhân thọ

Bảo hiểm nhân thọ

  • Bảo hiểm tài sản (bảo hiểm đối với việc mất mát hoặc hư hỏng bất cứ loại hình tài sản nào)

  • Bảo hiểm y tế

  • Bảo hiểm thương tật ( Disability health insurance (extends protection of health insurance to include protection against reduction or loss of income due to illness or accident).

 

 

Trong số 17 công ty bảo hiểm được cấp giấy phép hoạt động tại Việt Nam, có:

• 3 công ty bảo hiểm của nhà nước (Bảo Việt, Bảo Minh, công ty Bảo hiểm dầu khí Việt Nam)
• 5 công ty bảo hiểm nước ngoài (Allianz-AGF, Groupama, Prudential, Manulife và AIA)
• 4 công ty liên doanh với nước ngoài (Bảo Minh CMG là một trong số đó)
• 5 công ty cổ phần

Về loại hình giấy phép hoạt động, có 5 công ty có giấy phép hoạt động bảo hiểm nhân thọ (gồm Bảo Việt nhân thọ, Prudential, Manulife, AIA và Bảo Minh CMG), các công ty còn lại có giấy phép hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ. Cũng cần lưu ý rằng một số giấy phép có thể quy định phậm vi hoạt động hạn chế hơn, ví dụ giấy phép hoạt động của Groupama chỉ giới hạn phạm vi hoạt động trong lĩnh vự bảo hiểm nông nghiệp.

Ngoài ra ở Việt Nam còn có 3 công ty môi giới bao hiểm và các văn phòng đại diện của khoảng 20 công ty bảo hiểm nước ngoài.

1. Bảo hiểm nhân thọ

Thị trường bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam phát triển mạnh trong những năm gần đây. Năm 2003, tổng doanh số bán bảo hiểm nhân thọ đạt tới 6.500 tỷ đồng.

Thị trường bảo hiểm nhân thọ được phân chia giữa các công ty như sau (năm 2003)
 

Bảo Việt

41.7%

Prudential

37.7%

Manulife

12.9%

AIA

5.5%

Bảo Minh CMG

2.2%

Các công ty bảo hiểm đang nỗ lực đa dạng hoá sản phẩm. Ví dụ, Bảo Việt đã đưa ra sản phẩm bảo hiểm hưu trí tự nguyện, Prudential có sản phẩm thiết kế đặc biệt cho phụ nữ và trẻ em dưới 18 tuổi. Ngoài ra các công ty cón có các sản phẩm phụ đi kèm với sản phẩm chính. Mỗi công ty cung cấp một loạt các sản phẩm khác nhau, tuy vậy hầu hết các sản phẩm này đều là kết hợp giữa bảo hiểm nhân thọ có kỳ hạn và tiết kiệm.

Hầu hết các công ty bảo hiểm nhân thọ tập trung vào thị trường khách hàng có thu nhập trung bình. Mức phí bảo hiểm thấp nhất vào khoảng 84.000 đồng/tháng. Ví dụ trường hợp của công ty Bảo Minh CMG, khi được hỏi công ty có quan tâm đến thị trường có thu nhập thấp không, đại diện của công ty đã trả lời: 1/ mức phí hiện nay đã tương đối thấp (100.000đ/tháng), cho phép nhiều người có thể mua được bảo hiểm, 2/ thị trường mục tiêu của Bảo Minh CMG hiện vẫn chưa được khai thác hết và công ty vẫn còn nhiều khả năng để phát triển. Vì vậy Bảo Minh không thấy cần phải hướng tới các khách hàng có thu nhập thấp hơn.

Trong khi đó, Bảo Việt lại cung cấp một số sản phẩm có thể phù hợp đối với thị trường khách hàng nghèo. Ví dụ sản phẩm bảo hiểm sinh mạng của Bảo Việt với mức phí thấp nhất là 2.800 đồng/năm tương ứng với mức bảo hiểm là 1.000.000 đồng.

2. Bảo hiểm phi nhân thọ

Hai nhà cung cấp hàng đầu của thị trường phi nhân thọ là Bảo Việt và Bảo Minh, với thị phần lần lượt là 41% và 25,2%.
Bảo Việt cung cấp một loạt các sản phẩm phi nhân thọ, ví dụ như:

• Bảo hiểm kết hợp con người
• Bảo hiểm tài sản
• Bảo hiểm trách nhiệm dân sự (không phù hợp với người nghèo)

2.1 Bảo hiểm tài sản

Chỉ một số sản phẩm chọn lọc trong các sản phẩm bảo hiểm tài sản có thể có ích cho các hộ nghèo. Các sản phẩm tiềm năng này gồm có bảo hiểm cây lúa và bảo hiểm chăn nuôi.

Công ty bảo hiểm Groupama (Pháp), có trụ sở ở Cần Thơ, cung cấp sản phẩm bảo hiểm chăn nuối đối với một số vật nuôi nhất định. Groupama đang gặp phải một số khó khăn trong kinh doanh bảo hiểm chăn nuôi và hiện đang muốn đa dạng hoá hoạt động bằng cách mở rộng ra ngoài lĩnh vực bảo hiểm nông nghiệp. Bảo Việt đã thử nghiệm bảo hiểm cây lúa nhưng không thành công. Hiện Bảo Việt vẫn đang bảo hiểm cho một số cây trồng công nghiệp, như bảo hiểm cây cà phê, cây cao su... Kinh nghiệm của Bảo Việt trong lĩnh vực bảo hiểm chăn nuôi còn hạn chế và họ cũng đang chờ xem kết quả hoạt động của Groupama trong lĩnh vực này như thế nào. Được biết ở Tổng công ty Bảo Việt chỉ có một cán bộ phụ trách về bảo hiểm nông nghiệp, và người này còn phụ trách một mảng hạot động khác.

Các công ty bảo hiểm khác không cung cấp những sản phẩm phù hợp cho người có thu nhập thấp.

2.2 Bảo hiểm con người phi nhân thọ:

Những sản phẩm bảo hiểm sau đây của Bảo Việt có thể phù hợp với người nghèo:

• Bảo hiểm toàn diện đối với học sinh
• Bảo hiểm tai nạn con người
• Bảo hiểm trợ cấp nằm viện và phẫu thuật
• Bảo hiểm con người theo điều khoản kết hợp
Mức phí tối thiểu là 2.800 đồng/năm.

 

Kết luận:

1. Các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ của các công ty bảo hiểm tư nhân không phù hợp với khách hàng có thu nhập thấp, vì mức phí tối thiểu hàng tháng (84.000 đồng) quá cao.

2. Một số sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ của Bảo Việt có thể phù hợp với thị trường cso thu nhập thấp (mức phí tối thiểu chỉ có 2.800 đồng/năm)

3. Groupama hiện đang gặp khó khăn với sản phẩm bảo hiểm chăn nuôi. Bảo Việt không cung cấp nhiều sản phẩm bảo hiểm nông nghiệp, trừ bảo hiểm đối với một số cây công nghiệp.

 

C. Các sáng kiến về bảo hiểm trong khu vực bán chính thức và phi chính thức

Như đã trình bày ở trên, hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt Nam chủ yếu phục vụ khu vực kinh tế nhà nước, trong khi đó các nhà cung cấp bảo hiểm tư nhân tập trung vào tầng lớp dân cư có thu nhập trung bình hoặc cao. Để đáp ứng nhu cầu của các hộ gia đình có thu nhập thấp, các tổ chức, đoàn thể khác nhau đã phát triển một số cơ chế thay thế bảo hiểm.
 

Quỹ Tương trợ của Hội Người cao tuổi

Nghệ An, Nam Định

Thăm hỏi khi ốm đau, phúng viếng đám ma và mừng thọ (70 và 90 tuổi)

- Hội phí: từ 10.000 đến 70.000 đ khi gia nhập hội + phí hàng năm từ 1.000 đến 5.000 đ

Quỹ Tương trợ của Hội Phụ nữ thuộc một số Quỹ tín dụng–tiết kiệm do AAV thành lập

Sơn La, Quảng Ninh, Hà Tĩnh

Hỗ trợ trong trường hợp tử tuất (200.000 đ) và thăm hỏi khi ốm đau (2.000 đ/lần, tối đa 2 lần/năm)

Mức đóng góp = 500 đ/kỳ (2 kỳ/tháng)

Quỹ Tương trợ (bảo hiểm tín dụng) – TYM

 

Thành viên chết được trợ cấp 500.000 đ và xoá nợ, chồng và con dưới 18 tuổi của thành viên chết được trợ cấp mai táng 200.000 đ, và thành viên bị bệnh nặng được trợ cấp 200.000 đ (một lần duy nhất)

Mức đóng góp: 200 đ/tuần

Bảo hiểm chăn nuôi – GRET

Vĩnh Phúc

Bảo hiểm 4 bệnh đỏ đối với lợn nái và lợn thịt

Cung cấp dịch vụ tư vấn miễn phí

Quỹ Bảo hiểm Nông dân

Nghệ An

Bảo hiểm hưu trí

Mức phí tối thiểu = 20.000 đ/tháng

 

Kết luận:

Một số tổ chức, đoàn thể đã tự phát triển các sản phẩm bảo hiểm. Tuy nhiên, vì các tổ chức này không có chuyên môn về bảo hiểm, nên chương trình bảo hiểm của họ có thể gặp khó khăn. Mặc dầu vậy những sáng kiến của họ đã góp phần chứng minh rằng việc phát triển các sản phẩm bảo hiểm đáp ứng nhu cầu của khách hàng là có thể thực hiện được.
 

 

Kết luận:

Bảo hiểm là một ngành kinh doanh phức tạp và nhìn chung các tổ chức xã hội không nên tự mình cung cấp dịch vụ bảo hiểm (trừ phi đó là một số sản phẩm đơn giản nhất như bảo hiểm sinh mạng hay bảo hiểm tín dụng)

Để các hộ có thu nhập thấp, đặc biệt là phụ nữ nghèo, có thể tiếp cận bảo hiểm nhiều hơn, dự án "Mở rộng tài chính và bảo hiểm vi mô cho phụ nữ nghèo trong khu vực phi kết cấu" có thể:

1. Xem xét khả năng hợp tác giữa Bảo Việt/Groupama với các tổ chức tài chính vi mô để cung cấp các sản phẩm nhân thọ và phi nhân thọ

2. Nâng cấp những hệ thống bảo hiểm bán chính thức hiện đang được một số tổ chức tài chính vi mô thực hiện (như quỹ TYM và một số quỹ của AAV)
 

 

TIẾT KIỆM

 

Mục đích của nghiên cứu là xem xét các dịch vụ tiết kiệm hiện có ở Việt Nam và đánh giá xem các dịch vụ này có phù hợp với nhu cầu của người nghèo, đặc biệt là phụ nữ nghèo hay không. Hiện ở Việt Nam có nhiều phương thức tiết kiệm khác nhau, như được trình bày tơm tắt trong bảng sau:
 

Khu vực kinh tế

Cơ quan, tổ chức

Nhà nước

Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam

Ngân hàng chính sách xã hội

Công ty tiết kiệm bưu điện

Tư nhân

Ngân hàng tư nhân, VD Ngân hàng Á Châu (ACB)

Quỹ tín dụng nhân dân

Bán chính thức

Tổ chức tài chính vi mô: CEP, TYM, AAV, T/c Cứu trợ nhi đồng Mỹ (SC US)

Hội Phụ nữ

Phi chính thức

Họ, hụi, phường

 

Các sản phẩm tiết kiệm thường được chia làm mấy loại chính:

1. Tiết kiệm không kỳ hạn

2. Tiết kiệm có kỳ hạn

3. Tiết kiệm gửi góp (tiết kiệm theo hợp đồng)

 

Đơn vị

Sản phẩm tiết kiệm

Điều kiện

Nhận xét

Có phù hợp với người nghèo không

1.         Khu vực nhà nước:

Ngân hàng nông nghiệp

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn (dự thưởng)

Tiết kiệm gửi góp

Tiết kiệm lãi suất bậc thang

Mức gửi tối thiểu:  50.000 đ

Một số chi nhánh có thể quy định mức gửi tối thiểu cao hơn.

 

Mạng lưới rộng khắp (1.646 chi nhánh và điểm giao dịch trên toàn quốc). Dịch vụ tiết kiệm của NHNN tập trung vào thị trường đô thị.

Dịch vụ TK gửi góp chỉ có ở một số chi nhánh

Không (quy định mức gửi tối thiểu là 50.000đ)

NHCS

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn

Tiết kiệm lãi suất bậc thang

Không quy định

 

61 chi nhánh, 556 văn phòng giao dịch.

Hiện NHCS vẫn phải dựa vào mạng lưới và nhân viên của NH NN PTNT

Dịch vụ tiết kiệm của NHCS mới chỉ băt đầu hoạt động từ tháng 3/2003.

 

Công ty Tiết kiệm Bưu điện

Tiết kiệm có kỳ hạn

Tiết kiệm gửi góp

Không có dịch vụ tiết kiệm không kỳ hạn.

Mức gửi tối thiểu = 50.000đ

Thành lập năm 1999 và hiện đang cung cấp dịch vụ tại 709 điểm bưu điện (trong tổng số 8000 điểm bưu điện trên toàn quốc)

Mở cửa hàng ngày từ 7h30 đến 18h00

Chủ yếu phục vụ người có thu nhập trung bình

Còn mới mẻ đối với người dân

Tiết kiệm ở vùng nông thôn còn hạn chế

NH Công thương

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn (dự thưởng)

Mức gửi tồi thiểu = 50.000 đ

 

 

Không

2.         Khu vực tư nhân

ACB

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn

Tiếtkiệm gửi góp

Khi mở sổ tiết kiệm phải gửi tối thiểu 1.000.000đ

Hướng tới thị trường có thu nhập trung bình trở lên

 

Không

Quỹ TDND

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn

Mức gửi tối thiểu = 50.000 đ

Phí mua sổ = 5.000 đ

900 quỹ tín dụng nhân dân trên toàn quốc

Không

3.         Khu vực bán chính thức

SC US

Tiết kiệm cây tre (tiết kiệm không kỳ hạn)

Tiết kiệm măng non (tiết kiệm không kỳ hạn, hạn chế số lần rút tiền

Mức gửi tối đa = 200.000 đ/lần

Mức gửi tối thiểu = 1.000 đ/lần

Mức dư tiết kiệm tối thiểu được hưởng lãi = 100.000 đ

Cả thành viên vay vốn và không vay đều được gửi tiết kiệm

Phải thông báo trước khi muốn rút tiền

TYM

Tiết kiệm tự nguyện không kỳ hạn

Mức gửi tối đa = 100.000 đ/lần (ở Ý Yên, Nam Định là 20.000 đ/lần

Chỉ dành cho thành viên vay vốn

Phải thông báo trước khi rút tiền

AAV

Tiết kiệm không kỳ hạn

Tiết kiệm có kỳ hạn

Mức gửi tối thiểu = 1.000 đ/lần

Dành cho cả thành viên vay vốn và không vay

Phải thông báo trước khi rút tiền

Tiết kiệm có kỳ hạn là sản phẩm mới, bắt đầu thực hiện từ tháng 6/2003

CEP

Tiết kiệm không kỳ hạn (góp ngày)

Dành cho thành viên trả vốn theo ngày

Phải thông báo trước khi rút tiền

Hội phụ nữ

Tiết kiệm gửi góp (tiết kiệm mùa xuân)

Mức gửi tối thiểu = 1.000 đ (t/p HCM) và 20.000 đ (Nghệ An)

T/p HCM và Nghệ An

 

4. Khu vực phi chính thức

 

Trong khu vực phi chính thức có nhiều phương thức tiết kiệm khác nhau, ví dụ tiết kiệm theo nhóm (chơi họ, còn gọi là chơi hụi hay chơi phường). Một số nhóm tiết kiệm chơi có lãi, một số khác thì không có lãi. Một số nhóm thống nhất mục đích sử dụng tiền (VD nhóm họ xây nhà, họ hiếu/hỉ, họ bát đĩa, vv...), số khác lại không quy định, người tham gia có thể sử dụng tiền bốc họ vào bất cứ việc gì tuỳ theo nhu cầu. Số thành viên trong một nhóm có thể dao động từ 5 đến 30 người hoặc hơn nữa, nhưng thông thường ở mức 10 – 12 người. Mức đóng góp tuỳ theo từng nhóm, thông thường khoảng 100.000đ/tháng. Nếu đóng bằng thóc thì người chơi đóng hai lần một năm, vào hai vụ lúa.
Tiết kiệm theo nhóm đóng góp bằng tiền mặt thường phù hợp với người có thu nhập trung bình (vì mức đóng thường khoảng 100.000 đ/tháng trở lên). Còn các nhóm đóng bằng thóc có thể phù hợp hơn đối cới nông dân nghèo.
 

Kết luận:

1. Các ngân hàng thương mại nhà nước, kể cả NH NNPTNT, chưa cung cấp các sản phẩm tiết kiệm phù hợp với thị trường khách hàng có thu nhập thấp ở nông thôn. Cần tìm hiểu thêm xem NH CSXH và Công ty TKBĐ có cung cấp sản phẩm phù hợp không. Hoạt động huy động tiết kiệm của Công ty TKBĐ ở nông thôn còn rất hạn chế. Tuy vậy cũng nên tìm hiểu tiềm năng của Công ty trong việc cung cấp dịch vụ tiết kiệm cho khách hàng nghèo ở nông thôn.

2. Các ngân hàng tư nhân tập trung vào thị trường có thu nhập trung bình–cao và không quan tâm đến những người nghèo chỉ có khả năng tiết kiệm thấp. Tiết kiệm của các quỹ tín dụng nhân dân cũng chủ yếu phục vụ người có thu nhập trung bình trở lên.

3. Các tổ chức bán chính thức (như các tổ chức tài chính vi mô và các chương trình tín dụng–tiết kiệm khác của hội phụ nữ ở các cấp) đã cung cấp được sản phẩm tiết kiệm cho người nghèo. Tuy nhiên các sản phẩm tiết kiệm này thường là tiết kiệm bắt buộc. Chỉ có ít đơn vị cung cấp tiết kiệm tự nguyện, nhưng họ lại vướng phải một số trở ngại. Ví dụ, đôi khi khách hàng phải chờ đến 15 ngày mới rút được tiền tiết kiệm. Do vậy dự án của ILO có thể hỗ trợ các tổ chức tài chính vi mô để nâng cấp các sản phẩm tiết kiệm của họ sao cho đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người nghèo.

4. Trong khu vực phi chính thức có hình thức tiết kiệm theo nhóm với nhiều dạng phong phú. Cơ chế hoạt đọng của các nhóm hụi/họ này có thể cung cấp cho chúng ta những thông tin bổ ích về nhu cầu và khả năng tiết kiệm của người nghèo. Các tổ chức tài chính vi mô nên áp dụng những bài học rút ra từ các hình thức tiết kiệm trong dân gian để cải thiện hoạt động của mình.
 

 

VAY VỐN KHẨN CẤP

 

Vốn vay khẩn cấp là những khoản vốn nhỏ, ngắn hạn, được cấp ngay lập tức, với những thủ tục đơn giản. Trong phần này nghiên cứu chỉ tập trung vào các khoản vay thương mại (có lãi).

 

Nhìn chung các ngân hàng nhà nước và tư nhân, kể cả NH CSXH, đều không cung cấp vốn vay khẩn cấp. Trường hợp duy nhất mà khách hàng có thể vay một khoản vay khẩn cấp ở ngân hàng là khi họ cầm cố các giấy tờ có giá (chứng chỉ tiết kiệm có kỳ hạn, trái phiếu kho bạc...) Một số sản phẩm do các tổ chức tài chính vi mô cung cấp có tính chất gần giống như một vốn vay khẩn cấp (VD vốn vay bổ sung của AAV hay vốn đa mục đích của TYM). Tuy nhiên các khoản vốn này cũng không thể cấp trong ngày, và các thủ tục để được vay (dù đơn giản hơn so với thủ tục của ngân hàng) vẫn còn là một hạn chế.

 

Do vậy, chỉ có người cho vay tư nhân và các hiệu cầm đồ là những nhà cung cấp sản phẩm vốn vay khẩn cấp "thực".
 

Kết luận:

1. Các ngân hàng nhà nước và tư nhân không quan tâm đến việc cung cấp sản phẩm vốn vay khẩn cấp cho người nghèo, vì những khoản vay như vậy thường có độ rủi ro cao

2. Một số tổ chức tài chính vi mô cung cấp vốn vay bổ sung hay vốn đa mục đích. Các khoản vốn vay này có thể dùng vào nhiều mục đích khác nhau, giống như vốn vay khẩn cấp. Tuy nhiên các sản phẩm này còn thiếu sự linh hoạt cần thiết để có thể thực sự trỏ thành một sản phẩm vốn vay khẩn cấp, và do đó khách hàng của các tổ chức tài chính vi mô vẫn phải tìm đến người cho vay lãi hoặc gia đình/bạn bè khi họ có nhu cầu chi tiêu gấp.

3. Chỉ có các hiệu cầm đồ và những người cho vay lãi hiện đang cung cấp sản phẩm vốn vay khẩn cấp theo đúng nghĩa (vốn được cấp ngay lập tức với những thủ tục đơn giản). Bài học kinh nghiệm từ hoạt động của họ có thể áp dụng vào hoạt động của tổ chức tài chính vi mô để nâng cấp hoặc phát triển các sản phẩm vốn vay khẩn cấp phục vụ khách hàng có thu nhập thấp.
 

   
   

© 2003-2004 Văn phòng ILO tại Việt Nam.
Thiết kế bởi FPT Communications